[Chronicle 2nd] Seisen to Shinigami

Standard

聖戦と死神
Thánh chiến và Tử Thần

CHƯƠNG 1

「銀色の死神」~戦場を駈ける者~
「Thần Chết màu bạc」 ~Những kẻ lang thang nơi chiến trường~

第九巻 527ページ…
Tập 9, trang 527…

プロイツェン領オッフェンブルグ…
眩暈がする程の血の雨の薫に咽ぶことなくその男は笑っていた…
Offenburg, lãnh thổ của Preuzehn… hắn ta cười một cách điên dại trong cơn mưa máu tanh tưởi đang ào xuống.

フランドル暦182年『アラゴンの戦い』
アルヴァレス将軍率いる フランドル軍五千
ピレネー山脈を越え カスティリヤ領に進撃
アラゴン平原にて カスティリヤ軍
北方防衛駐留部隊一万二千を相手に開戦
Năm 182 theo lịch Flandre, 『Trận Aragon』
5000 quân Flandre do tướng Alvarez chỉ huy vượt qua các dãy núi Pyreenes và bắt đầu tấn công lãnh thổ Castilla.
Trên vùng đồng bằng Aragon, hắn đã khai chiến với lực lượng quân đội quốc phòng phương bắc Castilla số lượng 12000 quân.

勇み歩を進める毎に 足元に死が絡みつく
研ぎ澄まされてゆく刃風(かぜ)に 敵兵は戦意(こころ)惑わす
Bất cứ nơi nào họ diễu quân qua, cái chết đều gắn liền với bước chân của họ.
Bất cứ khi nào lưỡi gươm sắc bén của họ lướt đi trong gió, sĩ khí của quân địch đều bị lung lay, như con tim sắp vỡ ra mà đột tử.

猛る兵士と軍馬の嘶き「全軍突撃!我に続け…」
白銀の甲冑…<Belga人の将軍>Albelge
Tiếng hò reo của những chiến binh dũng mãnh và tiếng ngựa hí vang cả một góc trời
「Toàn quân xuất trận! Hãy theo ta… 」
Khoác trên người bộ áo giáp mạ bạc sáng chói kia là… <Tướng quân của người Belga>Albelge

──時は来た、見よ!ベルガの死神だ!(Chrono, Velesa! Chrono, Velesa!)
──時は来た、見よ!ベルガの死神だ!(Chrono, Velesa! Chrono, Velesa!)
Thời cơ đã đến! Nhìn đi! Là Velesa! Tử Thần của Belga kìa!
Thời cơ đã đến! Nhìn đi! Là Velesa! Tử Thần của Belga kìa!

「時に…アルヴァレス卿の軍はまた勝利を収めたようですな…
倍数以上の敵軍を完膚なきまでに叩きのめしての大勝利とか」
「Giờ thì… đội quân của ngài Arvalez đã có thêm một chiến công hiển hách nữa à…
Hắn đã đánh tan tác đội quân đông gấp mấy lần đội quân của hắn, có thể gọi là đại thắng đấy.」

「…銀色の死神、忌々しい<Belgaの亡霊>Albelgeめ、
今や陛下よりも奴を崇拝する者まで出始めておる始末」
「…Tử Thần màu bạc à, thằng nhãi <Bóng ma của Belga>Albelge,
từ khi hắn xuất hiện thì ngày càng nhiều người sùng bái hắn hơn là Bệ Hạ nữa.」

「丁度良い手駒もあることで御座いますし、機を見ていずれ、
目障りな英雄殿には、ご退場願うのが宜しいかと」
「Vậy là ta đã có một con cờ rất tuyệt nằm gọn trong tay rồi, và khi cơ hội đến
tốt hơn hết thì hãy cầu mong cho tên anh hùng rơm chướng mắt ấy sẽ biến mất trong im lặng.」

「手駒…ああプロイツェンで捕虜にしたあの男の事か?
…破滅を演じる歴史の舞台、今宵も面白い劇(ゆめ)が観れそうだ…」
「Con cờ? A… là cái thằng tù nhân bị bắt ở Preuzehn đấy à?
…sàn diễn lịch sử rồi sẽ sụp đổ thôi, tối nay chúng ta đã có kịch hay để xem rồi…」

「我ら<唯一神>(クロニカ)の名の下に…」
「Với danh nghĩa của <Vị Thần độc tôn>Chronica của chúng ta…」

彼は誰が為に戦場を駈けるのか…護るべき女性(ひと)と祖国(くに)を失って尚…
Do ai mà hắn phải lang thang trên chiến trường…
khi mà [người] con gái mà hắn nên bảo vệ đã ra đi cùng với quê nhà của hắn


CHƯƠNG 2

「聖戦と死神」~英雄の不在~
「Chiến tranh và Tử Thần」 ~Vị anh hùng vắng mặt~

愚者は問う…鉄壁の王城を捨て
女王は何処へ往くのかと…
賢者は識る…どれ程堅牢な守備を誇ろうと
陥落しない城など存在し得ぬことを…
Kẻ ngốc sẽ hỏi rằng: Nữ hoàng sẽ đi đâu khi đã rời khỏi bức tường sắt của kinh thành.
Còn kẻ khôn ngoan hơn thì biết rằng: cho dù có tự hào thành lũy được xây dựng kiên cố đến đâu
cũng không thể có một vương quốc nào thoát khỏi sự diệt vong

Britannia暦627年『Canterburyの戦い』
Parsifal騎士団長率いる第四騎士団
Doverより上陸した帝国軍第一陣を迎え討ち
Canterbury平原にて開戦
Năm 627 theo lịch Britannia 『Trận Canterbury』
Đoàn hiệp sỹ thứ tư do Percival làm tổng chỉ huy đã chạm trán với quân đội Đế Quốc đã vượt qua eo biển Dover.
Và bắt đầu trận chiến đầu tiên trên vùng đồng bằng Canterbury.

どんな敵も恐れはしない祖国を護る為に剣を振るえ
胸に気高き女王の薔薇を抱いた同胞よ
進め我らは<薔薇の騎士団>
Để bảo vệ quê hương không còn bóng giặc ngoại xâm, chúng ta cùng giơ cao lưỡi kiếm
Hỡi đồng bào mang trên ngực đóa hoa hồng của vị Nữ Hoàng cao quý
Hãy tiến về phía trước, chúng ta là <Những hiệp sỹ Hoa Hồng>

死をも恐れぬ薔薇の騎士達は彼に続く…
緋い戦場を駈け廻る一条の雷 Parsifalの雷槍(やり)
進め我らが<薔薇の騎士団>
Những hiệp sỹ Hoa Hồng không sợ cái chết đang rình rập
Ngọn giáo sấm sét của Percival đang lao nhanh như tia chớp xuống đồng bằng đẫm màu máu
Hãy tiến về phía trước, chúng ta là <Những hiệp sỹ Hoa Hồng>

──時は来た、見よ!ベルガの死神だ!(Chrono, Velesa! Chrono, Velesa!)
──時は来た、見よ!ベルガの死神だ!(Chrono, Velesa! Chrono, Velesa!)
Thời cơ đã đến! Nhìn đi! Là Velesa! Tử Thần của Belga kìa!
Thời cơ đã đến! Nhìn đi! Là Velesa! Tử Thần của Belga kìa!

帝国暦元年『Grasmereの戦い』
Alvarez将軍率いる帝国軍第三陣
辺境の地 Whiteheavenより上陸
疾風の如く馬を駆り敵陣の後背を突いた…
Năm đầu tiên theo lịch của Đế Quốc, 『Trận Grasmere』
Tướng quân Alvarez chỉ huy đội quân thứ ba của Đế Quốc tiến đến vùng biên cương Whitehaven.
Như vũ bão, họ đã nhanh chóng cưỡi ngựa đột kích vào tận hậu phương của địch.

殺す相手を愛する者や 祈る者がいることは忘れろ
邪教の使徒は根絶やしにしろ 眼を背けるなこれが<聖戦>
Nhưng họ đã quên rằng kẻ địch cũng như họ, cũng có người thân, người yêu,
những người đang cầu nguyện cho họ được trở về bình an.
Cho dù có nhổ cổ tận gốc, tàn sát những kẻ ngoại đạo này
thì cũng đừng ngoảnh mặt làm ngơ, vì đây chính là <Thánh chiến>

「Aaaaaaah-!!」

燃え上がる山村 虐殺される人々
逃げ遅れた娘 追い駈ける男
馬上で弓を引き絞り 獲物に狙いを定める
放たれた火矢 細い娘の身を掠める
Ngôi làng đang cháy rụi, những người dân bị chém giết. Một cô gái đang lết mình đi trong tuyệt vọng.
Một người đàn ông đang háo hức truy đuổi theo sau. Trên lưng ngựa, hắn giương cung nhắm thẳng vào con mồi.
Và bắn, xuyên qua thân hình mảnh mai của người thiếu nữ.

「Charlotte…!!」 

転倒した娘 飛び出した男
娘に振り下ろされた白刃を弾き返す
Cô gái gục ngã, anh ta chạy đến chặn lưỡi gươm đang muốn chém qua người cô.

動かない娘 向かい合う二人の男
此方…白馬のAlvarez
彼方…黒馬のGefenbauer
Cô gái nằm bất tỉnh, hai người đàn ông chạm trán nhau.
Một bên là Alvarez trên lưng bạch mã, còn bên kia là Gefenbauer trên lưng hắc mã.

「武器を持たぬ者に何をするのだ…」
「Ngươi đang làm gì với một người không một tấc sắt trên tay thế kia?」

「小娘といえど邪教の使徒、情けを掛けてやる必要などありわせぬ…」
「Tuy là con gái, nhưng ả cũng là dân ngoại đạo. Không cần phải thương xót ả đâu…」

「道を踏み外すな目を醒ますのだ…」
「Đừng lạc lối, hãy mở to đôi mắt ra đi…!」

「貴様にだけは言われたくないわ…偽善者、英雄狂、人殺し<Belgaの死神>Albelge」
「Ta không muốn nghe ngươi giảng đạo, đồ nít ranh!
Đã đạo đức giả lại còn muốn làm anh hùng rơm hả tên sát nhân <Tử Thần của Belga> Albelge kia!」

「親父はOffenburgで死んだ…兄貴も…弟も…戦友も…皆…」
「Cha ta đã hy sinh ở Offenburg… các em trai ta… đồng bào ta… tất cả mọi người… 」

「待て…貴様、帝国を裏切るつもりか…まぁそれも良かろう…<Belgaの死神>Albelgeよ、
貴様を殺す男の名を忘れるな、その男の名こそ<Belgaの死神の死神>Gefenbauerだ!」
「Này, ngươi định phản bội lại Đế Quốc đấy à? À, mà cũng được thôi, nhưng <Tử Thần của Belga> Albelge,
Ngươi đừng quên tên của kẻ sẽ lấy mạng của ngươi nhé, đó chính là ta <Tử Thần của Tử Thần của Belga> Gefenbauer!」

幾度も繰り返される過ち 歴史に何を学ぶ…
奪い奪われてはじめて 気付く闇がある…
Lỗi lầm trong quá khứ vẫn mãi lặp lại. Chúng ta học được điều gì từ lịch sử…?
Cướp thứ đã từng bị cướp, lần đầu tiên anh ta đã biết thế nào là bóng tối đang tồn tại…

──時は来た、見よ!ベルガの死神だ!(Chrono, Velesa! Chrono, Velesa!)
──時は来た、見よ!ベルガの死神だ!(Chrono, Velesa! Chrono, Velesa!)
Thời cơ đã đến! Nhìn đi! Là Velesa! Tử Thần của Belga kìa!
Thời cơ đã đến! Nhìn đi! Là Velesa! Tử Thần của Belga kìa!

狭い山道を風のように駈け抜ける白馬
馬上には白銀の甲冑の男
傷ついた娘を抱きかかえたまま南へと疾り去る…
Bạch mã lao nhanh như gió hướng về lối mòn trên núi
Trên lưng ngựa là người đàn ông mặc giáp bạc
ôm lấy người thiếu nữ bị thương, và tăng tốc nhắm thẳng về phía Nam

「Gefenbauer…世界を憎み呪うかのようなあの眼…
あの男は私だ、私の過去だ…lotte…嗚呼…Charlotte…私は何と戦えば良い…」
「Gefenbauer… đôi mắt ấy như thể muốn nguyền rủa cả thế giới này bằng hận thù của chính hắn…
Hắn cũng chính là ta, một con người khác của ta trong quá khứ
Lotte… Aa… Charlotte… Anh đang chiến đấu vì cái gì đây…?」


CHƯƠNG 3

「薔薇と死神」~歴史を紡ぐ者~
「Hoa hồng và Tử Thần」 ~Những người dệt nên lịch sử~

「此処は何処なのかしら?私は確か…追われ…矢を射られ…倒れたはずだったわ…」
「Đây là đâu? Ta nhớ là… ta đã… bị truy sát… bị trúng tên… và ngã xuống…」

「気付いて良かった、大丈夫かい?
私の名はAlvarez、君達の村を襲った軍隊の指揮官…
だったのだが…今ではもう追われる身だ…からと言っても…言い訳に過ぎぬ…私が憎いかい?」
「Cô đã tỉnh lại rồi à? Thật tốt quá. Cô không sao chứ?
Tên tôi là Alvarez, chỉ huy của đám lính vừa tấn công làng của cô
À không, đã từng là chỉ huy… thôi, giờ thì tôi đang bị họ truy nã
Mặc dù vậy… tôi chỉ đang ngụy biện thôi… Cô có hận ta không?」

「えぇ…憎くない…と言ったら嘘になるけれど…助けてくれた貴方のこと、私は信じたい…」
「Vâng, nếu ta nói “không” tức là ta nói dối
Nhưng mà… ta muốn tin vào lời của người vừa cứu mạng ta.」

「私はBelga人<Belge>なのだよ…
亡国の仇を取る為、旧Flandreへ身を寄せた<異邦人>Albelge
この意味が解るかい…お嬢さん?この手はもう取り返しのつかない程に汚れている…」
「Tôi là Belge (người Belga)… để giành lại đất nước đã mất,
Tôi với cái tên <người ngoại quốc> Alberge
đã đến những vùng đất thuộc về Flandre trước khi và cướp đi rất nhiều mạng sống.
Cô có hiểu thế gọi là gì ko? Bàn tay tôi đã vấy máu không thể rửa sạch và càng ngày càng tanh tưởi hơn.」

「最初は怒りからPreuzehnを…
次に異国での居場所を確保する為Lombardoを…
そして己の願望を満たすという目的の為に、Castillaを滅ぼした…」
「Đầu tiên là cơn cuồng sát ở Preuzehn
Sau đó là Lombard, để đảm bảo thế đứng của tôi ở xứ người
Và cuối cùng là hủy diệt Castilla, chỉ để thỏa mãn cho riêng tôi」

「今でも目を閉じると、鮮やかに浮かんでくる風景がある…
私にはどうしても取り戻したい場所があったのだ…
そんな私に当時のChildebert六世陛下は約束してくれた…」
「Ngay cả bây giờ, khi tôi nhắm mắt lại, khung cảnh ngày ấy vẫn còn hiện hữu trước mắt
Cũng bởi vì có một nơi mà tôi đã bất chấp mọi thủ đoạn để lấy lại
Hoàng đế Childebert VI đã hứa với tôi rằng…」

「国をあと一つ…例えばBritanniaの征服を条件に…
Belgaの独立自治権を許すと…私は他人(ひと)の国を売って…自分の国を買い戻そうとしたのだ…」
「Chỉ cần tôi đánh chiếm thêm một vương quốc nữa… Britannia chẳng hạn…
Thì hắn sẽ cho Belga quyền được tự trị
Tôi đã bán rẻ đất nước của người khác chỉ để lấy lại đất nước của tôi」

「私はそんな愚かな男なのだよ…」
「Tôi thật là một gã ngu ngốc」

「そう…そんな愚かな男なら、私がここで殺してしまっても構わないわね?」
「Đúng… Nếu như ngươi ngốc đến vậy thì ta giết ngươi được chứ?」

「あぁ…好きにするが良い…私は取り返しのつかない過ちを犯してしまった…」
「Ah… cô cứ xuống tay đi, tôi đã phạm một lỗi lầm quá lớn không thể cứu vãn được rồi」

「馬鹿!それでは何も解決しないじゃない…貴方はそれで満足かも知れない…
でも貴方の仇を取ろうとする者が現れないとは限らない…その論理が繰り返し悲劇を生んでいるのよ…」
「Đừng có ngốc như vậy nữa!
Ta giết ngươi cũng chẳng giải quyết được gì. Ngươi muốn như vậy lắm à?
Ngươi có chắc là sẽ không có bất kỳ ai sẽ đến lấy mạng ta nếu như ta giết ngươi bây giờ?
Làm như thế thì bi kịch cũng sẽ lặp lại và cứ thế mãi tiếp diễn mà thôi.」

「取り返しのつく歴史なんて一つもないの、だから尊いの、だから私達は新しい歴史を創ってゆくの…
愚か者とは…過ちを犯す者のことじゃない…過ちと知ってなお、正そうしない者のことをいうのよ…」
「Chúng ta không thể quay ngược quá khứ, nó là thứ không thể xóa bỏ được
Nhưng đó cũng là lý do mà chúng ta phải tạo ra một lịch sử mới bằng chính đôi tay này
Kẻ ngu ngốc không chỉ là những người đã gây ra lỗi lầm
mà còn là những kẻ biết sai nhưng không dám chấp nhận và sửa chữa」

「…ねぇ…そうでしょう?」
「Thật… thật vậy à?」

「お嬢さん…君は強いな…」
「Cô nương, cô thật là mạnh mẽ」

「えぇ…そうよ…私は強いわ、この国(Britannia)の未来を背負っているんだもの…」
「Ừ… đúng vậy… Ta phải mạnh mẽ, bởi vì tương lai đất nước này (Britannia) đang đè lên vai ta.」

「この国の未来?Britanniaの女王は若い娘だと聞いていたが…まさか…君が…!」
「Tương lai đất nước này? Tôi có nghe nói nữ hoàng mới đăng cơ của Britannia là một thiếu nữ…
Không lẽ… cô là…」

「Rose guine Avalon…そう…私がこの国の女王よ…
黙っていて御免なさい…でも解って欲しいの…Alvarez将軍…私は貴方を信じます…」
「Rosa Guine Avalon… Đúng, ta chính là nữ hoàng của Britannia
Ta xin lỗi vì đã không nói cho người biết ngay từ đầu,
nhưng ngươi hãy hiểu là ta tin ngươi, tướng quân Alvarez」

「これは…女王陛下とは露知らず、数々の非礼を…」
「Ôi.. thần đã khi quân phạm thượng với Bệ Hạ, sai lầm nối tiếp sai lầm, xin Bệ Hạ hãy giáng tội」

「お願い!畏まらないで、私はそういうの好きじゃないの、私のことはRoseで良いわ…」
「Xin đừng hành lễ như vậy. Ta không thích lắm đâu. Gọi ta là Rosa được rồi.」

「それにしても貴方があの有名な「<Belgaの死神>Albelge」とはね…
…想像していた像と随分違うわね、熊のような大男だと思っていたのに…」
「Thế còn ngươi là <Tử Thần của Belga>Albelge mà thiên hạ đang đồn đại đấy à?
Thật khác với những gì ta tưởng tượng, ta nghĩ rằng ngươi là một gã đàn ông cao to như gấu ấy」

「…でも<Belgaの死神>はやめた方が良いわね…
この国では流行らないわ…Britannia風に言うと…
そうね、<Belgaの暴れん坊>Arbelgeかしら…
そっちの方がずっと素敵よ…ねぇ…そうしなさいな…?」
「Nhưng mà có lẽ ta không nên dùng gọi ngươi là <Tử Thần của Belga>Albelge nữa.
Cái tên ấy đã không còn thịnh hành ở đất nước này rồi.
Nếu theo cách đọc của Britannia thì…<Gã bạo lực của Belga>Arbelge thì sao nhỉ?
Nghe cũng hay mà đúng ko? Ta gọi ngươi như thế nhé?」

「何?さっきから女性(ひと)の顔をそんなに見つめて…」
「Sao hả? Sao ngươi lại nhìn chằm chằm vào ta như thế…」

「いや…最初に貴女を助けた時、ある女性に似ていると思ったのだが…」
「A không… chỉ là khi thần cứu Người thì thần chỉ nghĩ đó là một người con gái bình thường thôi」

「思ったのだが?」
「Ngươi nghĩ thế à?」

「…今にして思うと全然似ておらぬ…」
「Bây giờ nghĩ lại thì hoàn toàn không phải thế」

Windermereの湖畔を白い風が駈け抜けて往く…
Tristram騎士団長率いる第六騎士団が衛る地
Lancasterへと…
Bên bờ hồ Windermere, gió thổi tan sương mù
đến nơi mà quân đoàn thứ sáu do Tristram làm tổng tư lệnh
đang đóng quân ở Lancaster…


CHƯƠNG 4

「黒色の死神」 ~英雄の帰郷~
「Tử Thần màu đen」 ~Người hùng trở về quê hương~

Alvarez亡命の報は 帝国のみならず
Garia全土に強い衝撃を響かせ疾った…
Tin tức Alvarez đào ngũ đã nhanh chóng được truyền ra khắp Đế Quốc.
Tới tận cả Gallia và đã có một sự tác động mạnh lên toàn vương quốc.

時代は英雄を求め 反撃の狼煙は上げられた
旧Castilla領が 帝国に対し独立宣戦を布告
旧ロンバルド領 旧Preuzehn領がそれに続き
帝国内部で高まりつつあった聖戦への反感が遂に爆発
Vào chính thời điểm đó, những người anh hùng đã giơ cao ngọn lửa phản kháng.
Thuộc địa Castilla tuyên chiến với Đế Quốc và tuyên bố độc lập.
Thuộc địa Lombardo và Preuzehn cũng đã đứng lên.
Nội bộ của Đế Quốc cũng bắt đầu có chia rẽ.
Nỗi căm phẫn đối với thánh chiến cuối cùng cũng đã bộc phát

Alvarezを頼り 軍・民・問わず亡命者が殺到
更に熾烈な四正面作戦を強いられた帝国は
次第に領土を削られ 国力を疲弊していった…
そして…戦局の流転は 時代にひとつの決断を投げ掛ける…
Tuy Alvarez không có ở đó, nhưng lực lượng thường dân và quân đào ngũ vẫn tiếp tục tăng.
Bốn cuộc chiến khốc liệt đã diễn ra và làm suy yếu lực lượng của Đế Quốc.
Dần dần, họ mất trắng các vùng thuộc địa và cả quyền lực cũng gần như kiệt quệ.
Và với sự chuyển biến quá đột ngột của chiến cuộc, chỉ có thể đưa ra một quyết định duy nhất

それは…皇帝 聖Childebert六世より
Britannia女王へと宛てられた一通の親書…
Quyền quyết định thuộc về Thánh Childebert VI
Nữ hoàng của Britannia đã gửi một bức thư cho hắn…

帝国暦四年『Verseine休戦協定会談』
帝国領Yvelines Verseine宮殿
大理石の回廊を進む薔薇の女王
左にはParsifal 右にはAlvarez
柱の陰には招かれざる客…
Năm 4 theo lịch của Đế Quốc, 『Hội đàm hiệp ước hữu nghị Verseine』
được tổ chức ngay trên lãnh thổ của Đế quốc: cung điện Verseine ở Yvelines.
Vị Nữ Hoàng từng bước khoan thai trên hành lang dát đá cẩm thạch.
Đi theo sau nàng, bên tay trái là Percival, còn bên phải là Alvarez.
Và núp sau cột đá là một vị khách không mời.

黒の教団より放たれし刺客…
死角より放たれし時の凶弾…
嗚呼…歴史は改竄を赦さない…
Một thích khách từ Giáo Đoàn Đen cử tới.
Từ một góc chết, hắn đã ra tay ám sát một cách nhanh chóng…
A… Lịch sử là không thể thay đổi…

凍りつく時間の中を 崩れ堕ちるAlvarez
Parsifalの雷槍が閃き 崩れ落ちるGefenbauer
Trong khoảng khắc đen tối tưởng chừng như đã đóng băng đó, Alvarez đã bị trúng tên.
Và khi ngọn giáo sấm sét của Percival vừa kịp lóe sáng, Gefenbauer đã ngã xuống.

それは…歴史の流れが変わる瞬間だろうか?
それとも最初から全て決められていのだろうか…
Phải chăng thời điểm đó đã thay đổi lịch sử?
Hay chỉ là mọi thứ đã được ấn định ngay từ ban đầu?

「…先に逝ったのか…Gefenbauer…人間(ひと)とは全く…哀しい生物(もの)だな…」
「Trước lúc chết thế này… Gefenbauer… cuộc đời của ngươi… quả là một đứa đáng thương…」

彼を誘う最期の闇 その中にさえ…
Giây phút cuối cùng trong bóng tối, anh ta đã nói…

「嗚呼…朱い…何て朱い夕陽なんだ…Charlotte…私は必ず…必ず帰って…」
「A… màu đỏ… ánh nắng đỏ của hoàng hôn thật là đẹp biết bao…
Charlotte… anh nhất định… sẽ trở về bên em.」

Britannia暦630年 英雄Albers・Alvarez
Yvelines宮殿 にて暗殺者の凶弾に倒れる…
彼の墓碑銘にはLuna Balladが捧げた詩の一節が刻まれた…
Năm 630 theo lịch Britannia, người anh hùng Albers Alvarez
đã bị trúng tên và hy sinh ở cung điện Verseine trên vùng đất Yvelines.
Khắc trên bia mộ của anh là một đoạn thơ của Luna Ballad…

多くを殺し 多くを生かした 多くを悩み 多くを為した <Belgaの同胞>Arbelgeここに眠ると…
Đã giết nhiều người, nhưng cũng đã cứu sống nhiều người
Đã khiến nhiều người sợ hãi, nhưng cũng đã khiến biết bao người tôn thờ
<Người anh em của Belga> Arbelge đã yên nghỉ ở nơi đây…

Garia全土を巻き込んでなお停まらない大戦
その終結には…更に多くの血と涙 五年の歳月を要するのである…
Cuộc chiến tranh ở Gallia vẫn chưa kết thúc.
Và cuối cùng, máu và nước mắt vẫn chảy như suối qua suốt 5 năm nữa…

夕陽に染まる丘 寄り添うように並ぶ二つの墓標
白鴉が凛と羽ばたいて往く 終わらない空の向こうへ…
Hai ngôi mộ chôn cạnh nhau, trên ngọn đồi nhuộm đầy sắc hoàng hôn.
Cánh quạ trắng vẫn chao liệng trong khoảng trời bất tận này…

Advertisements