[Luxendarc Daikikou] 09 – Hana ga Chiru Sekai

Standard

花が散る世界
Thế giới rải rác những cánh hoa

空が色褪せて夜が押し寄せる
不意に止めどなく雨が降る
Sắc trời dần nhạt nhòa, nhường lối cho màn đêm buông xuống
Và cơn mưa đột nhiên ào xuống, rơi mãi không thôi.

嗚呼… 傍に行きたくて闇を奔っても
今は渡れない河がある
Aa… cho dù ta có chạy xuyên vào màn đêm để đến bên anh
Nhưng trước mắt ta giờ đây là con sông dài vắt ngang chặn lối.

悲しくて目を閉じる 微笑んだ顔が浮かぶよ
愛しさが胸を締める夜を数えても
微笑んだ君はいない…
Khi đôi mắt buồn đau này khép lại,
hình ảnh nụ cười của anh lướt qua trong tâm trí ta
Không biết bao đêm trái tim ta quặn đau
mỗi khi nhớ về yêu thương mà anh đã dành cho ta
Anh, cùng với nụ cười ấy, giờ đây đã không còn nữa…

嗚呼… 花は散るから美しいと
本当にそう思えますか?
花が散らない世界があったら
その方が良いと思いませんか?
Aa… anh đã nói rằng hoa rơi là giây phút mà hoa trở nên đẹp nhất
Anh đã nghĩ như thế sao?
Sao anh không nghĩ rằng sẽ tốt hơn
nếu như các loài hoa trên thế gian này sẽ không còn rơi nữa?

戯れ言だと…笑ってくれても…構いません…
少し… 疲れているのです…
Ta không quan tâm… nếu như anh bật cười… và nói rằng ta chỉ đùa với anh mà thôi.
Ta chỉ… có hơi chút mệt mỏi…

寂しくて目を閉じる
はにかんだ顔が浮かぶよ
虚しさが胸を穿つ夜を見つめても
はにかんだ君はいない…
Khi đôi mắt cô đơn này khép lại,
hình ảnh gương mặt ngại ngùng của anh lướt qua tâm trí ta
Dẫu ta có nhìn vào đêm thâu
cũng không tránh được nỗi cô đơn này đang dày xé trái tim ta.
Anh, cùng với gương mặt ngại ngùng đó, đã không còn nữa…

もう… 君はいない…
Giờ đây… anh đã không còn nữa…

空が色褪せて夜が押し寄せる
今日も止めどなく雨が降る…
Sắc trời dần nhạt nhòa, nhường lối cho màn đêm buông xuống
Giờ đây cơn mưa vẫn ào xuống mãi không dứt

[Luxendarc Daikikou] 03 – Utsurona Tsuki no Shita de

Standard

虚ろな月の下で
Dưới ánh trăng xanh xao

大地を穿つ大穴と 虚ろなその月の下で
運命に導かれるように彼等は出逢った
Dưới ánh trăng xanh xao, một cái hố lớn xé toạc mảnh đất này.
Tựa như được số mệnh dẫn lối, họ đã gặp nhau tại nơi đây.

心を抉る傷跡を それぞれの胸抱えたまま
優しい風が撫でるように二人は出逢った
Mỗi người đều mang một nỗi đau riêng, khắc nên những vết sẹo trong con tim
Nhẹ nhàng hệt như làn gió thoảng qua trên gò má, hai con người ấy đã gặp nhau

少女が鳥になるのなら 少年は空になる
世界を巡る物語は《虚ろな月の下で》(ここ)から始まった…
Nếu như người thiếu nữ hóa thành cánh chim
Thì chàng trai ấy sẽ là bầu trời cao xanh.
Câu chuyện từng ngao du khắp thế giới
đã khởi nguồn 《dưới ánh trăng xanh xao》 nơi đây.

大地を穿つ大穴と
虚ろなその月の下で
縁を確かめるように彼等は出逢った
Dưới ánh trăng xanh xao, một cái hố lớn xé toạc mảnh đất này.
Tựa như duyên số là không tránh khỏi, họ đã gặp nhau tại nơi đây.

Collaborated Single 『Schwarzweiβ ~雾の向こうに繋がる世界 ~』

Standard

Tracklist

  1. Weiß: Gensō e no Sasoi / Weiß ~幻想への誘い~
  2. Schwarz: Soshite Shōjo wa Mori no Naka / Schwarz ~そして少女は森の中~
  3. Schwarzweiß: Kiri no Mukō ni Tsunagaru Sekai / Schwarzweiß ~霧の向こうに繋がる世界~
    (bài hát chủ đề của trò chơi Atelier Iris: Grand Fantasm)

1. Trắng ~ Lời mời đến ảo mộng ~

Những chú chim non hót líu lo, ngoài cửa sổ, nắng vàng xuyên qua những tán cây.
Đó là những gì mà ta gọi là sự bắt đầu của ngày hôm nay,
một ngày quá đỗi bình thường như bao ngày khác ở ngôi làng nhỏ bao bọc bởi rừng cây và hồ nước này.

Đôi giày ướt đẫm sương sớm, người thiếu nữ sải bước tiến sâu vào khu rừng.

Sương mù vây quanh mặt hồ tĩnh lặng,
nơi mà người ta đồn rằng nó đang ẩn chứa một lời nguyền ma quái.

「Múc nước xong thì trở về nhà nhanh nhé con」 là lời mà bà dì (mẹ) luôn nhắc nhở…

Đột nhiên sương mù dày đặc vây quanh, cô gái quay lại nhìn và hít một hơi thật sâu.
Thấy thấp thoáng bên bờ kia một bóng người, có lẽ là hình bóng của người cha đã qua đời từ rất lâu.

Nếu như ta có thể với tay đến với con, ta mong sao được gặp con một lần nữa.
Hãy nhẹ nhàng gọi ta, như trước kia con đã từng gọi…

Thứ đang tiến vào rừng sâu trong ánh nắng buổi chiều muộn này
là đóa hoa trắng tinh khiết giờ đây đã rơi vào bẫy của ảo mộng.

2. Đen ~ Và người thiếu nữ đã vào rừng ~

Ánh trăng xanh ngắt phản chiếu trên mặt hồ rẽ nước.
Đôi bàn tay trắng nhỏ vụng về giữ lấy mái chèo.

Sương mù vây quanh ngày càng dày đặc, rừng càng tối lại càng như bị khóa lại.

Xuôi theo dòng nước, hai bên bờ những bông hoa đang nở rộ.
Rực rỡ thì thầm những lời nói hiểm độc cho đến khi hương thơm ngọt ngào nhạt đi.

「Ngươi đã bị xiềng xích hồi ức trói buộc rồi,
hãy cứ đi tìm người cha đang lẩn trốn của ngươi đi」

Trước giọng nói đầy cám dỗ ấy, cô gái càng tiến sâu vào khu rừng hơn.

Đàn bướm hòa mình vào điệu múa cùng nụ hôn của cái chết và ánh trăng.
Một vũ điệu thần tiên cho đến khi sắc đỏ nhạt nhòa bay đi.

「Ngươi hãy cứ đong đưa cùng với cái nôi của hồi ức đi,
cuối cùng rồi cũng mục nát trong cái ôm ảo mộng mà ngươi khao khát thôi」

—Ý thức dần nhạt nhòa, trước mắt cô bây giờ chỉ còn lại những ảo tưởng tháng ngày ấu thơ đầy tiếc nuối
→【Trò chơi xếp chồng những mảnh gỗ cong nằm rải rác này làm sao để nó không đổ xuống】←

Ta đã cố gắng xếp chúng thật cẩn thận lần nữa và lần nữa…
Đúng rồi… Đừng khóc… Vì ta đã ngoắc tay [hứa] với con rồi mà…

3. Đen trắng ~ Những thế giới liên kết nhau sau bức màn sương mù ~

Thế giới đang tỏa sáng trong Đen Trắng

Ta thề trước Lời thề Trung Thành
Đúng vậy, là Vanhite
Ta thích là ta giết!
Trước lời thề của hắn, thời cơ cũng đã đến

Trong bóng tối hắn ta vươn tay ra mong tìm kiếm được một tia sáng
Khi hắn tỉnh dậy, hắn chỉ thấy một thế giới lạ lẫm đang đợi chờ trước mắt

――Và rồi ôm lấy nụ cười của ai kia làm trái tim hắn dao động
Hắn bước đi, dùng tay xua tan màn sương mù, bất chấp mọi giao kèo ràng buộc…

Câu chuyện lướt ngang bầu trời vẽ nên ảo tưởng lối về quê hương
Đêm đen… hơi thở trắng… người đàn ông cất tiếng hát…
Cho đứa con gái [Alice] như nụ hoa tinh khiết mà ông hết mực yêu thương…

Cho dù ta có dồn hết tâm tư vào nhưng nhiều lúc lời nói vẫn không đủ lực
Chỉ có kẻ hành sự mới có thể nắm bắt được sự thật trong tay

――Vì vậy mà, một sự quyết tâm bỗng chốc lóe lên trong lồng ngực của người thiếu nữ
Nắm lấy mái chèo lái con thuyền đến nơi xa xăm, người con gái lấy hết can đảm
dùng tay gạt đi màn sương đang phản chiếu hình ảnh hư không trước mắt cô

Câu chuyện chạy trốn khỏi ảo mộng huyễn hoặc và đi tìm cánh cổng
Côn trùng đen… Sương mù trắng… người con gái thách thức… với tà tâm của khu rừng tàn nhẫn…

Những cuộc hành trình [câu chuyện] sẽ được kết nối…
chỉ cần chúng ta gặp nhau thêm nhiều lần nữa

Cưỡi trên cơn gió lớn (Gust)… liệu có đến được khu vườn nhỏ (Atelier)?
Ngày nào đó chúng ta sẽ lại gặp nhau… Aa… bởi vì ta không chỉ có một mình
Cho dù con đường đầy chông gai… cho dù hôm nay đây tồi tệ đến đâu… nhưng nếu ta cười…

――Cuối cùng thì mong muốn trong lòng những kẻ mạo hiểm này
sẽ dang rộng đôi cánh tung bay khắp thế giới
Góp nhặt từng chút một những mảnh vỡ của hy vọng
Rọi ánh hào quang xóa tan màn sương mù đã ngăn cách mọi thứ

Đen trắng

Câu chuyện dệt nên sự vĩnh hằng như ảo mộng của màn đêm trắng
Vực đen (Edge)… Tro tàn trắng (Ash)… Chính TA, vận mệnh sẽ quay về…
Trong trong con mắt (Iris) của thần nữ NGƯƠI

Ta thề trước Lời thề Trung Thành
Đúng vậy, là Vanhite
Ta thích là ta giết!
Trước lời thề của hắn, thời cơ cũng đã đến

Ta sinh ra tại Atelier
Đúng vậy, là Alchemy
Ta thích là ta giết!

Thế giới đang tỏa sáng trong Đen Trắng

[Jiyuu e no Shingeki] 02 – Jiyuu no Tsubasa

Standard

自由の翼
Đôi cánh tự do

Wohlan Freund!
Jetzt hier ist ein Sieg.
Dies ist das erste Gloria.
O, mein Freund!
Feiern wir diesen Sieg, für den nächsten Kampf!
―おお、我が同志よ!今此処に勝利がある。これは最初の栄光だ。
おお、我が盟友よ!次なる戦いの為に、この勝利を讃えよう!―
Hỡi đồng chí bạn tôi!
Giờ đây là thời khắc của chiến thắng.

Đó là chiến công vẻ vang đầu tiên.
Hỡi những đồng minh bạn tôi!
Hãy nâng cốc vì chiến thắng này cho cuộc chiến tiếp theo!

「無意味な死であった」と…言わせない
最後の《一矢》(ひとり)になるまで……
Đừng bao giờ nói rằng 「Họ đã chết một cách vô ích」
Cho đến khi người cuối cùng 《mũi tên duy nhất》 ngã xuống…

Der Feind ist grausam… Wir bringen… ―奴等は残忍だ…我等は成し遂げる―
Der Feind ist riesig… Wir springen… ―奴等は巨大だ…我等は跳躍する―
Kẻ thù tàn nhẫn… thì ta phải cố mà đánh lại…
Kẻ thù to lớn… thì ta phải cố mà nhảy qua…

両手には《鋼刃》(Gloria) 唄うのは《凱歌》(Sieg)
背中には《自由の翼》(Flügel der Freiheit)
握り締めた決意を左胸に 斬り裂くのは《愚行の螺旋》(Linie der Torheit) 蒼穹を舞う——
《自由の翼》(Flügel der Freiheit)
Nắm lấy《kiếm sắt》(tụng ca) vinh quang trong tay,
ta cất cao lời ca《khúc khải hoàn》(chiến thắng)
mang trên lưng 《đôi cánh tự do》
Giữ lấy lòng quyết tâm sục sôi nơi lồng ngực trái,
ta chém toạc 《vòng xoáy của sự ngu xuẩn》 này
cùng với 《đôi cánh tự do》tung bay trên trời xanh—

鳥は飛ぶ為にその殻を破ってきた 無様に地を這う為じゃないだろ?
お前の翼は何の為にある 籠の中の空は狭過ぎるだろ?
Loài chim chọc thủng vỏ trứng là để tung cánh bay trên trời xanh
Chứ không phải lê lết trên mặt đất một cách thảm hại, đúng không?
Vậy các ngươi dùng đôi cánh ấy để làm gì
khi khoảng trời trong cái lồng này đang dần nhỏ hẹp đi?

Die Freiheit und der Tod.   ―自由、そして死
Die beiden sind Zwillinge.  ―両者は共に生まれ落ち、対為す存在である
Die Freiheit oder der Tod?  ―自由か、それとも死か?
Unser Freund ist ein!     ―我等が友とするは一方のみだ!
Tự do, và cái chết.
Hai kẻ ấy tựa như sinh đôi.
Tự do? Hay cái chết?
Bạn của ngươi chỉ có một mà thôi!

何の為に生まれて来たのかなんて… 小難しい事は解らないけど…
例えそれが過ちだったとしても… 何の為に生きているかは判る…
其れは… 理屈じゃない… 存在… 故の『自由』!
Tại sao ta lại được sinh ra… tựa hồ như điều khó hiểu này là không có lời giải đáp
Nhưng cho dù nó có là sai trái, thì ta vẫn biết ta đang sống là vì cái gì
Không cần nhiều lời giải thích… chúng ta tồn tại, nghĩa là chúng ta được 『tự do』!

Die Flügel der Freiheit.
Đôi cánh tự do

隠された真実は 衝撃の嚆矢だ
鎖された其の《深層》(やみ)と 《表層》(ひかり)に潜む《巨人達》(Titanen)
崩れ然る固定観念 迷いを抱きながら 其れでも尚 『自由』へ進め!!!
Sự thật được giấu kín bấy lâu là mũi tên tiên phong làm ta phải sững sờ
《Chiều sâu》 của bóng tối bị giam cầm
và 《những gã khổng lồ》 ẩn mình trong 《bề mặt》 ánh sáng
Cho dù niềm tin bấy lâu có lung lay sụp đổ, cho dù con tim ta có lạc lối,
Ta vẫn bất chấp tất cả mãi tiến bước hướng về 『tự do』!!!

Rechter Weg? Linker Weg? Na, ein Weg welcher ist? ―右か?左か?さぁ、どちらを選ぶ?
Der Feind? Der Freund? Mensch, Sie welche sind? ―敵か?味方か?なぁ、お前はどちらなんだ?
Bên trái? Hay bên phải? Vậy, ta phải chọn con đường nào đây?
Là bạn? Hay thù? Này, ngươi là cái gì?

両手には《戦意》(Instrument) 唄うのは《希望》(Licht)
背中には《自由の地平線》(Horizont der Freiheit)
世界を繋ぐ鎖を各々胸に 奏でるのは《可能性の背面》(Hinterfront der Möglichkeit)
蒼穹を舞え——
《自由の翼》(Flügel der Freiheit)
Siết chặt 《ý chí chiến đấu》 (nhạc cụ) trong tay,
ta cất cao bài ca 《hy vọng》(ánh sáng),
mang trên lưng 《chân trời của sự tự do》
Chấp chứa trong mỗi con tim sợi xích liên kết thế giới,

chúng ta mãi ngân vang bài ca 《những gì có thể của mặt trái sự việc》
cùng với 《đôi cánh tự do》tung bay trên trời xanh—

Wohlan Freund!
Jetzt hier ist ein Sieg.
Dies ist das erste Gloria.
O, mein Freund!
Feiern wir diesen Sieg für den nächsten Kampf!
Der Feind ist riesig… Wir springen…
Die Flügel der Freiheit!
Hỡi đồng chí bạn tôi!
Giờ đây là thời khắc của chiến thắng.
Đó là chiến công vẻ vang đầu tiên.
Hỡi những đồng minh bạn tôi!
Hãy nâng cốc vì chiến thắng này cho cuộc chiến tiếp theo!
Kẻ thù tàn nhẫn… thì ta phải cố mà đánh lại…
Đôi cánh của tự do

[Lost] White Illusion

Standard

白の幻影 – White Illusion
Ảo ảnh màu trắng

「最初の記憶」
「Ký ức đầu tiên… 」

※1

Go ahead in snowstorm[吹雪の中を前に進め]
Sight is dim with pure white [白で埋め尽くされた視界を信じるな]
Go ahead in snowstorm [吹雪の中を前に進め]
Merely wonders about [ただ迷うだけだ]
Lao thẳng vào vùng bão tuyết
Cố hy vọng vào tầm nhìn đang bị lu mờ trong màn tuyết trắng xóa
Lao thẳng vào vùng bão tuyết
Chỉ muốn tự tìm hiểu một điều

Go ahead in snowstorm [吹雪の中を前に進め]
Solitary in a snowy field [雪原にはお前ただ一人だ]
Go ahead in snowstorm [吹雪の中を前に進め]
Don’t look back upon the past [過去を想ってはいけない]
Sweethearts wating for you [親友たちは君を待っている]
Whisper of a wind [風のささやきが聞こえる]
They are in an icy castle [彼らは氷の城にいる]
Go to save early [早く救いに行け!]
Lao thẳng vào vùng bão tuyết
Chỉ một người đơn độc lê bước trên lớp tuyết dày
Lao thẳng vào vùng bão tuyết
Xin đừng quay lại nhìn quá khứ đã qua
Những người bạn thân chí cốt đang chờ người đó
Làn gió thì thầm nói
Họ đang ở trong lâu đài băng giá
Hãy nhanh chân đi cứu họ đi!

Lặp lại ※1

Go ahead in snowstorm [吹雪の中を前に進め]
It’s a very steep ,long distance [この先はどこまでもとても険しいぞ!]
Go ahead in snowstorm [吹雪の中を前に進め]
Its life may be lost [命を失うことになるかもしれない]
Lao thẳng vào vùng bão tuyết
Nơi đến, cho dù ở bất cứ nơi đâu, vẫn còn xa lắm đó
Lao thẳng vào vùng bão tuyết
Mất mạng là điều không thể tránh khỏi

※2

Icy Queen’s castle [氷の女王の城だ!]
From there no way to out [そこからは絶対に逃れられない]
hopeless melody is sound [絶望の旋律が鳴り響いている]
cold night advances [寒い夜がやってくる]
Là lâu đài của Bà chúa tuyết!
Đã vào đó là không có lối thoát
Giai điệu tuyệt vọng cứ vang mãi không ngừng
trong đêm đông ngày càng lạnh giá.

※3

They are looking at the white illusion [彼らは白の幻影を見ていたにすぎない]
Their darling person never returns [彼らの最愛の人は帰ってはこない]
Their trip isn’t finished forever [彼らの幻覚は永遠に覚めない]
Illusion merely escapes [幻影はただ消え去っていく]
Họ vẫn dõi mắt vào thứ ảo ảnh màu trắng
Những người mà họ yêu thương sẽ không bao giờ trở lại
Họ sẽ không thể thoát khỏi những cơn ảo giác mộng mị bất tận này
Ảo ảnh sẽ tự nó biến mất

「忘レモノハ在リマセンカ・・・」
「Ngươi đã quên điều gì chăng…?」

Icy Queen’s castle is mere illusion [氷の女王の城は幻影にすぎない]
Tenacity purpose of those who died in a snowy field [強い決心をした者達は雪原で死んでいった]
What’s their thing left behind ? [彼らは何を置き忘れてしまったのだろう?]
And tale is in the White illusion… [あるいは白の幻影に飲み込まれた作り話なのだろうか…]
Lâu đài của Bà Chúa Tuyết cũng chỉ là ảo ảnh
Càng nhiều người quyết tâm đi tìm thì càng nhiều xác chết gục ngã trên lớp tuyết dày.
Họ đã để quên thứ gì ở lại đằng sau?
Và họ có biết rằng thứ ảo ảnh màu trắng đấy chỉ là những câu chuyện bịa đặt hay không?

Lặp lại ※2

Lặp lại ※3

「White Illusion…」
「Ảo ảnh màu trắng…」

「Illusion…」
「Ảo ảnh…」